TIN TỨC - SỰ KIỆN

Hướng dẫn viết sáng kiến năm học 2015 - 2016

GD&TĐ - Theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT Hải Dương, sáng kiến kinh nghiệm của cán bộ quản lý, giáo viên phải thể hiện được tính mới, tính sáng tạo, hiệu quả, khoa học và sư phạm.

Đồng thời đảm bảo tính pháp lý (sáng kiến đề nghị xét phải do chính cán bộ, giáo viên viết, các giải pháp, biện pháp mà tác giả sáng kiến đưa ra đã được áp dụng trong thực tế quản lý giáo dục và giảng dạy) và chưa từng được công bố trên sách, báo hay đã được hội đồng sáng kiến các cấp công nhận).

alt 

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Trang bìa

Trang bìa là thông tin chung về sáng kiến, trình bày trong 1 trang gồm: Tên sáng kiến, nếu sáng kiến liên quan đến giải pháp đã có tên đang được sử dụng phổ biến thì nên lấy ngay tên giải pháp để đặt tên sáng kiến. Nếu sáng kiến liên quan đến giải pháp lần đầu tiên được tạo ra thì nên đặt theo chức năng của sáng kiến được áp dụng trong thực tế;

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Nêu lĩnh vực cụ thể mà sáng kiến liên quan đến hoặc lĩnh vực mà sáng kiến được áp dụng.

Tác giả; họ và tên; ngày tháng/năm sinh; chức vụ, đơn vị công tác, điện thoại;

Đồng tác giả (nếu có và nêu rõ phần công việc đảm nhiệm), nêu rõ họ và tên; ngày tháng/năm sinh; chức vụ, đơn vị công tác, điện thoại.

Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại.

Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại; Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến;

Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Nêu mốc thời gian mà sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên trong thực tế hoặc áp dụng thử.

Tóm tắt nội dung sáng kiến

Trình bày ngắn gọn nội dung, ý nghĩa cơ bản nhất của sáng kiến, tóm tắt khoảng 2 trang.

Tóm tắt sáng kiến tập trung vào các nội dung sau: Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến; điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.

Chỉ rõ: Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến; khả năng áp dụng của sáng kiến (tính khả thi của các giải pháp). Nêu cụ thể, chi tiết cách thức áp dụng sáng kiến; chỉ ra lợi ích thiết thực của sáng kiến (giá trị, hiệu quả của sáng kiến).

Khẳng định giá tri, kết quả đạt được của sáng kiến. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.

Mô tả sáng kiến

Mô tả sáng kiến ngắn gọn, đầy đủ và rõ ràng. Trình bày nội dung sáng kiến, các bước thực hiện sáng kiến và các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến. Cụ thể:

Thứ nhất, phải chỉ rõ được tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến đảm bảo tính khoa học, phù họp với lý luận về giáo dục, phù hợp với chủ trương, chính sách hiện hành về giáo dục và đào tạo của nhà nước.

Nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở thì cần nêu rõ tình trạng của giải pháp đã biết, phân tích, so sánh đối chiếu trước và sau khi thực hiện các giải pháp, biện pháp để chứng minh, thuyết phục về hiệu quả mà giải pháp khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết.

Có thể minh họa bằng sơ đồ, hình vẽ, ảnh chụp mẫu sản phẩm, giáo án minh họa, đồ dùng, đồ chơi sáng tạo,... để chứng minh tính mới, tính sáng tạo của giải pháp, biện pháp đưa ra.

Trình bày kết quả thu được sau khi áp dụng sáng kiến kết quả định tính và định lượng, trên cơ sở khảo sát, đánh giá khoa học, khách quan; có so sánh, đối chiếu trước và sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến.

Thứ hai, trình bày về khả năng áp dụng của sáng kiến: Nêu rõ việc giải pháp đã được áp dụng (tính khả thi của của sáng kiến), kể cả áp dụng thử nghiệm trong điều kiện cụ thể tại cơ sở và mang lại lợi ích thiết thực; ngoài ra có thể nêu rõ giải pháp còn có khả năng áp dụng cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức nào.

Thứ ba, chỉ ra lợi ích thiết thực của sáng kiến (giá trị, hiệu quả của sáng kiến). Đánh giá kết quả thu được hoặc dự kiến kết quả có thể thu được do áp dụng giải pháp sáng kiến.

Trình bày kết quả thu được sau khi áp dụng sáng kiến (kết quả định tính và định lượng), trên cơ sở khảo sát, đánh giá khoa học, khách quan; có so sánh, đối chiếu trước và sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến thông qua các đối tượng thực nghiệm và đối chứng

Hiệu quả kinh tế: Nêu rõ những chỉ tiêu kinh tế (có thể lượng hóa được) như các chỉ tiêu tiết kiệm chi phí đầu vào (nguồn nhân lực, thời gian, chi phí nguyên vật liệu), tăng lợi nhuận đầu ra do sáng kiến mang lại cao hơn giải pháp đã biết trên cơ sở kết quả thử nghiệm, áp dụng thử sáng kiến.

Trong trường họp lợi ích kinh tế không lượng hóa được thì phân tích, đánh giá những lợi thế có thể đạt được giữa việc áp dụng sáng kiến vào thực tiễn so với việc không áp dụng.

Hiệu quả xã hội, môi trường: Nêu rõ những nhược điểm đã được khắc phục của những giải pháp đã biết mà không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, trật tự an ninh xã hội, thuần phong, mỹ tục như:

Nâng cao điều kiện công tác; cải thiện môi trường giáo dục; nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, thực hiện nhiệm vụ; tạo điều kiện học tập tích cực cho trẻ em phát triển thể chất và trí tuệ...

Kết luận

Khẳng định kết quả mà sáng kiến mang lại; khuyến nghị và đề xuất với các cấp quản lý về các vấn đề có liên quan đến áp dụng và phổ biến sáng kiến.

Ngoài 3 phần chính trên có thể bổ sung danh mục chữ viết tắt, các phụ lục (các biểu mẫu, danh mục tài liệu tham khảo nếu có) và Mục lục.

Khi trình bày sáng kiến, nếu tác giả sáng kiến tham khảo, trích dẫn các nội dung trên mạng internet, sách báo, tạp chí, các tài liệu khác phải ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ của nội dung được tham khảo, trích dẫn.

Nếu không ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ nội dung tham khảo, trích dẫn, tác giả sáng kiến sẽ bị phạm quy sao chép, sáng kiến sẽ không được xét công nhận.

Hải Bình 

 


Không thu bảo hiểm y tế HS - SV một lần đầu năm học

GD&TĐ - Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Nghĩa ký công văn gửi các Sở GD&ĐT, các ĐH, học viện, trường ĐH, CĐ, TCCN về việc thực hiện bảo hiểm y tế cho học sinh sinh viên.

Theo công văn này, liên Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 41 hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT). Trong đó nêu rõ phương thức đóng bảo hiểm y tế là: Cơ sở giáo dục thu tiền đóng phần thuộc trách nhiệm phải đóng của học sinh, sinh viên 6 tháng hoặc một năm một lần nộp vào Qũy BHYT”.

alt

(Ảnh chỉ mang tính chất minh hoa

 

Đây là năm đầu tiên thực hiện Luật BHYT sửa đổi, mức đóng BHYT đối với đối tượng học sinh, sinh viên có thay đổi (4,5% mức lương cơ sở/tháng).

Tuy nhiên, nhiều cơ sở giáo dục đã tổ chức thu tiền BHYT của học sinh, sinh viên 12 tháng một lần vào thời điểm đầu năm học, gây khó khăn cho học sinh, sinh viên và gia đình người học, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh, sinh viên, gia đình người học và thực hiện nghiêm túc Luật BHYT sửa đổi, Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở GD&ĐT, các ĐH, học viện, trường ĐH, CĐ và TCCN phối hợp với cơ quan Bảo hiểm xã hội tại địa phương tổ chức thu tiền BHYT của học sinh, sinh viên 6 tháng một lần; tránh thu tập trung vào thời điểm đầu năm học.

Thực hiện nghiêm túc việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí trích lại của quỹ BHYT cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các cơ sở giáo dục, đào tạo theo đúng quy định Thông tư liên tịch số 41 và các quy định về quản lý tài chính hiện hành, phần kinh phí trên được chi vào các nội dung sau:

Chi mua thuốc, vật tư y tế phục vụ sơ cấp cứu, xử trí ban đầu cho trẻ em, học sinh, sinh viên khi bị tai nạn thương tích và các bệnh thông thường trong thời gian học tập, làm việc tại cơ sở giáo dục;

Chi mua sắm, sửa chữa trang thiết bị y tế thông thường phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cơ sở giáo dục;

Chi mua văn phòng phẩm, tủ tài liệu phục vụ việc quản lý hồ sơ sức khoẻ trẻ em, học sinh, sinh viên;

Chi mua sách, tài liệu, dụng cụ phục vụ hoạt động tuyên truyền, giảng dạy, giáo dục ngoại khoá về chăm sóc, tư vấn sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình tại cơ sở giáo dục;

Các khoản chi khác để thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cơ sở giáo dục.

Công văn cũng nhấn mạnh: Các cơ sở giáo dục, đào tạo không tổ chức thu các khoản bảo hiểm tự nguyện.

Lập Phương

 

Lễ khai giảng năm học 2015-2016 tại trường THCS Ngô Gia Tự

          Hôm nay, ngày 05/9, cùng với không khí phấn khởi, tưng bừng của cả nước trong ngày Hội đến trường, thầy và trò trường THCS Ngô Gia Tự, xã Cư Pơng đã long trọng tổ chức Lễ khai giảng năm học mới 2015-2016.

          Đến dự buổi Lễ có ông Y Ni Mlô – Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Búk, ông Y Kha Mlô – Bí thư Đảng ủy xã Cư Pơng, Bà H Hinh Niê – Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cư Pơng, Ban đại diện CMHS trường và cùng toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên.

          Mở đầu buổi Lễ,  ông Y Ni Mlô – Phó Chủ tịch UBND huyện đã đọc thư Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gửi Ngành Giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới. Đồng thời, Phó Chủ tịch UBND huyện cũng gửi lời chúc mừng đến thầy và trò trường THCS Ngô Gia Tự sẽ gặt hái được nhiều thành tích trong năm học 2015-2016.

 

          Tại buổi lễ, thầy Đoàn Văn Khiêm – Hiệu trưởng đã đọc diễn văn khai giảng năm học mới. Thầy Hiệu trưởng đã điểm lại các thành tích nổi bật của Nhà trường trong năm học vừa qua và bày tỏ mong muốn trong năm học mới 2015-2016, toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên và các em học sinh cùng quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học.

          Sau diễn văn khai giảng, thầy Đoàn Văn Khiêm đã tuyên bố khai giảng và gióng hồi trống mở đầu một năm học mới.

alt 

Thầy Đoàn Văn Khiêm đánh trống khai giảng năm học mới

          Trong buổi lễ, Công ty TNHH MTV Cà phê 15 – Quân khu V, doanh nghiệp tư nhân Đức Anh cũng đã tặng quà và học bổng cho học sinh nghèo vươn lên trong học tập.

alt 

Ông Y Ni Mlô và đại diện Công ty Cà phê 15 tặng học bổng cho các em học sinh

          Buổi lễ khai giảng khép lại trong không khí vui tươi, phấn khởi và quyết tâm đạt các thành tích cao hơn nữa trong năm học mới. 

                                                                                                  Bài viết

                                                                                             Lê Thị Lan Như

 

Cô giáo "gà" bài cho học sinh tranh cử chức chủ tịch

"Góc nhìn thẳng" của VietNamNet đã có cuộc trao đổi với T.S Vũ Thu Hương - giảng viên Khoa Giáo dục tiểu học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội về dự kiến đưa chức danh Chủ tịch Hội đồng tự quản vào cấp tiểu học thay cho vị trí lớp trưởng.

alt
 

Nhà báo Kiều Oanh: Kính chào quý vị và các bạn. Vừa qua, việc bình bầu chức danh hội đồng tự quản đã được triển khai ở một số trường tiểu học. “Góc nhìn thẳng” số này có mời đến trường quay T.S Vũ Thu Hương – giảng viên Khoa Giáo dục tiểu học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Cảm ơn bà đã tham dự chương trình.

Câu hỏi đầu tiên xin gửi đến bà: Sau khi chứng kiến những hình ảnh học sinh tiểu học tranh cử chức danh Chủ tịch hội đồng tự quản, bà có suy nghĩ gì?

T.S Vũ Thu Hương: Thực ra thì tôi nghĩ rằng đây cũng là một hoạt động rất là thú vị đối với trẻ - một hoạt động rất mới. Trẻ em được phát biểu ý kiến và được đưa ra những lời hứa và trẻ chắc chắn sẽ phải thực hiện những lời hứa như vậy.

Tuy nhiên, nếu như đây là một buổi tranh cử thực sự do trẻ em hoàn toàn tự chủ thì rất tốt. Nhưng nếu như có một sự chỉ đạo của người lớn, ví dụ như viết kịch bản hộ các em thì tôi nghĩ chắc chắn là không hay rồi.

- Theo bà, đổi mới giáo dục có nên làm phức tạp hóa những vấn đề đã trở thành nề nếp, ví dụ đơn giản như là cô giáo chủ nhiệm chỉ định chức danh lớp trưởng hoặc thực hiện công việc thay cán bộ luân phiên như các trường đã làm lâu nay?

Tôi nghĩ giáo dục không phải bắt đầu từ những việc rất lớn, mà là bắt đầu từ những việc rất nhỏ bé. Đây là một trong những việc nhỏ bé mà có lẽ chúng ta cũng nên xem xét lại. Trẻ em khi được bổ nhiệm làm chức lớp trưởng thì các em giống như là một thứ tay sai của cô giáo, làm tất cả những gì cô giáo sai bảo và nhiều khi có những hành động mà rất nhiều phụ huynh đã phản ánh như là đánh bạn, vu tội cho bạn – những việc rất là không nên, nhưng nếu như các em thực sự đứng ra tranh cử và các em đứng ở vị trí đó là do lá phiếu của các bạn thì chắc chắn những vấn đề kia sẽ không xảy ra. Tôi nghĩ là việc này chúng ta cũng phải nên xem xét lại.

- Qua vấn đề này, bà thấy tính giáo dục trong việc giáo dục trẻ, cho trẻ chơi một trò chơi là tranh cử ở lứa tuổi này là như thế nào?

Tôi không tán thành việc cho trẻ em chức vụ khi trẻ còn đang đi học tiểu học. Tôi nghĩ chức vụ có lẽ chỉ nên bắt đầu từ cấp 2. Bởi vì cấp 1 chúng ta nên đạt tới một cái gọi là giáo dục công bằng. Tất cả các vị trí đều như nhau, các em đều giống nhau từ ở thành phố, nông thôn, miền núi. Điều này tôi nghĩ rằng chúng ta đã làm nhưng làm chưa đến nơi. Ví dụ chúng ta đã cho các em mặc đồng phục. Cái này cũng là muốn tạo sự công bằng với tất cả các em. Việc cho các em chức vụ rõ ràng là đã không tạo ra sự công bằng. Tôi hi vọng là một thời gian sau chúng ta sẽ sửa đổi để đạt được một mức độ công bằng tốt hơn.

- Cá nhân bà có đánh giá như thế nào khi cho trẻ tiểu học tranh cử chức Chủ tịch hội đồng tự quản? Có lợi và hại như thế nào?

Thực ra trẻ em khi được tham gia một hoạt động như vậy thì chắc chắn các em sẽ tự tin hơn rất nhiều. Các em sẽ dám nói và dám làm. Ngoài ra, các em cũng rất khao khát và mong muốn làm những công việc như vậy. Chúng ta thấy trẻ em Việt Nam vốn rất thiếu tự tin. Đây cũng là một cách dạy cho trẻ em tự tin hơn. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng với lứa tuổi nhỏ thì chức vụ cũng sẽ mang lại nhiều hậu quả. Có lẽ chúng ta nên dời việc này đến cấp cao hơn là THCS. Còn với các em, chúng ta nên nghĩ ra hoạt động khác để gia tăng tính tự tin cho trẻ.

- Tức là bà không ủng hộ việc thực hiện việc bình bầu chức danh ngay ở cấp tiểu học, mà nên để cấp cao hơn. Vậy thì bà có đề xuất cụ thể như thế nào để thực hiện việc này hiệu quả hơn ở lứa tuổi này?

Tôi cũng đã nhiều lần đề xuất lên Bộ GD&ĐT là chúng ta nên đạt cấp độ công bằng ở cấp tiểu học. Nghĩa là tất cả các em đều không có chức vụ gì cả và tất cả các em đều như nhau trong mắt các thầy cô giáo.

Tuy nhiên, thứ nhất là chúng ta còn quá đông học sinh trong một lớp và việc quản lý các em cũng không đơn giản, cho nên việc quản lý các bạn có giá trị trợ giúp các thầy cô rất nhiều. Vì vậy, cho nên muốn đạt được giá trị giáo dục công bằng, thì chúng ta phải điều chỉnh số lượng học sinh trong một lớp. Và phải điều chỉnh phong cách dạy của lớp học, làm sao cho phù hợp với điều đó.

Theo tôi nghĩ, chắc chắn Bộ GD&ĐT sẽ đạt đến điều đó nhưng chúng ta phải đợi một thời gian dài và đây là bước chuẩn bị cho những hoạt động như vậy.

- Theo bà đánh giá thì bước chuẩn bị và đang tập dượt ở các trường như thế đã có một động lực thúc đẩy để thực hiện ở các trường khác hay chưa?

Theo như tôi theo dõi ở các trường có "mô hình trường học mới" (VNEN) thì các em thường tự nhiên hơn rất nhiều so với mô hình trường cũ. Đó là một ghi nhận khi chúng ta áp dụng mô hình này.

Tuy nhiên, tôi cũng thấy đã xuất hiện một số hiện tượng là giáo viên đã viết lời cho các em nói, thậm chí trong lúc các em học bài nhóm, các em cũng không biết nói gì và giáo viên cũng phải viết lời để các em nói.

Những hiện tượng tiêu cực như vậy chúng ta phải xử lý và chỉnh sửa làm sao để cho mô hình trường học đó phù hợp hơn với học sinh tiểu học Việt Nam.

Cảm ơn bà đã tham gia chương trình.

  • VietNamNet

 

Đi chân trần trên thủy tinh có thật sự nguy hiểm?

Khi giẫm lên nhiều mảnh, áp lực lúc này sẽ được dàn đều trên mỗi phần da tiếp xúc với thủy tinh. Áp suất cũng theo đó mà giảm đi nhiều lần, giúp chúng ta không bị mảnh thủy tinh làm bị thương.

alt 


Mới đây, cuốn sách dạy học sinh tiểu học bước chân trần trên thảm rải thủy tinh gây xôn xao dư luận. Nhiều người cho rằng, hành động được cho là "thể hiện lòng dũng cảm" này thực sự nguy hiểm với ngay cả người lớn.

Khi được yêu cầu bước qua tấm thảm rải nhiều mảnh vỡ thủy tinh, không ít người phải run sợ khi nghĩ đến viễn cảnh bị hàng ngàn mảnh thủy tinh sắc nhọn cứa vào chân. Tuy nhiên trên thực tế, đã có rất nhiều người bước chân trần trên vụn thủy tinh mà không sao. Tại sao lại như vậy?

Thực chất, đây chỉ là một hiện tượng vật lý đơn giản mang tên “áp suất”. Áp suất trong vật lý là áp lực trên một đơn vị diện tích tác dụng theo chiều vuông góc của vật thể. Trong trường hợp này, lực được tính dựa trên cân nặng. 

Nếu như bạn chỉ giẫm lên một mảnh thủy tinh sắc nhọn, áp suất sẽ rất lớn do toàn bộ trọng lực của cơ thể dồn lên một mảnh thủy tinh duy nhất - lực này đủ lớn để đâm thủng da chúng ta.

Tuy nhiên, khi giẫm lên nhiều mảnh, áp lực lúc này sẽ được dàn đều trên mỗi phần da tiếp xúc với thủy tinh. Áp suất cũng theo đó mà giảm đi nhiều lần, giúp chúng ta không hề bị thương.

heo ông Lê Trung Kiên, Phó giám đốc Trung tâm cảm xạ TP HCM, trao đổi với VnExpress cho biết, việc đi trên mảnh chai vỡ là rất bình thường, chỉ cần họ được hướng dẫn cẩn thận bởi những người có kinh nghiệm là được.

Đức Hòa (tổng hợp)

 

Bí kíp nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn

 Chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn là điểm mấu chốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Như vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn?

alt
 

Dưới đây là những chia sẻ của cô Lê Thị Nguyệt – Hiệu trưởng Trường THPT Triệu Quang Phục (Hưng Yên).

Triển khai các chuyên đề

Đây là nội dung sinh hoạt thường xuyên và rất cần thiết, các chuyên đề cần tập trung vào những đề tài như đổi mới phương pháp giảng dạy, rèn luyện các kỹ năng bộ môn, dạy các bài khó, ứng dụng CNTT trong dạy học, sử dụng thiết bị dạy học, làm mới đồ dùng dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu,...

Ở tổ chuyên môn của trường phổ thông nên hạn chế những chuyên đề nặng về lý luận mà việc triển khai trong thực tế còn khó khăn.

Việc triển khai các chuyên đề cần được thực hiện có kế hoạch, được tổ chức, được kiểm tra, đánh giá thì mới có chất lượng và hiệu quả tốt. Trong một năm học cần cơ cấu hợp lý các mảng đề tài.

Mỗi GV chỉ nên đảm trách một chuyên đề, phân bổ thời gian phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường. Sau khi xác định được các chuyên đề, việc triển khai nên gồm các bước:

Phân công cá nhân chuẩn bị chuyên đề; Tổ trưởng duyệt bản thảo; Báo cáo chuyên đề ở tổ, nhóm, các tổ viên góp ý, phản biện; Cá nhân phụ trách hoàn thiện chuyên đề; Nhân bản cho toàn thể tổ viên áp dụng và lưu hồ sơ để áp dụng nhiều năm.

Khi trao đổi, thảo luận ở tổ cần làm rõ những vấn đề tế nhị. Chẳng hạn, chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về dạy học tích cực. Tránh hiểu sai lầm, thuyết trình là không tích cực, chỉ có tổ chức dạy học theo nhóm mới là tích cực.

Vấn đề là làm sao để HS suy nghĩ nhiều hơn, hành động nhiều hơn, hợp tác nhiều hơn, bày tỏ ý kiến nhiều hơn. Cũng vậy, chuyên đề về ứng dụng CNTT trong dạy học cần quan tâm đến liều lượng và hiệu quả:

Sử dụng CNTT đến mức độ nào trong bài giảng cụ thể này? Kết hợp giữa viết bảng và trình chiếu trên màn hình như thế nào để đạt hiệu quả?

Điều quan trọng là, trong mỗi tiết dạy, GV biết lựa chọn phương pháp thích hợp, biết kết hợp các phương pháp hiện đại với các phương pháp truyền thống tùy thuộc vào từng bài giảng, không nên lạm dụng phương pháp nào.

GV phải coi trọng các thủ pháp dẫn dắt HS tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên, lôgic.

Rèn luyện kỹ năng sư phạm của GV

Nâng cao chất lượng giờ dạy là khát vọng của các GV, tổ chuyên môn và nhà trường. Điều này được thực hiện qua nhiều biện pháp khác nhau. Kỹ năng sư phạm của GV có ảnh hưởng lớn đến việc chất lượng giờ dạy.

Ở các buổi sinh hoạt tổ có thể trao đổi, góp ý, giúp nhau sửa chữa những tồi tại, những nhược điểm như phong cách lên lớp, ngôn ngữ diễn đạt, trình bày bảng của GV, ...

Hoạt động này nhằm hoàn thiện kỹ năng sư phạm của nhiều GV, trong khi góp ý sau tiết dự giờ, thao giảng thường hướng tới từng cá nhân cụ thể.

Phong cách lên lớp mà chúng ta mong muốn là chững chạc, tự tin, làm chủ bài giảng. Chú ý đến giọng nói, cử chỉ đi đứng, động tác tay, ánh mắt, nụ cười, ...

Ngôn ngữ (nói và viết) là kênh quan trọng để HS lĩnh hội kiến thức. Những GV dạy tốt, cuốn hút HS không chỉ họ có ưu thế về kiến thức và thủ thuật sư phạm mà họ còn sử dụng lời nói chính xác, với âm lượng vừa phải, rõ ràng, truyền cảm, có ngữ điệu.

Do vậy, trong sinh hoạt tổ chuyên môn, cần làm cho GV có ý thức rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, khi góp ý các giờ dạy cần chú trọng đến yếu tố này. Làm sao để trên lớp, GV có giọng nói chuẩn, chỉ dùng từ phổ thông, ít trùng lặp, ít sai sót.

Ứng dụng CNTT, trình chiếu trong dạy học là cần thiết nhưng không thể thay thế phấn và bảng. Trình bày bảng cùng với trình chiếu nhờ CNTT là kênh thông tin chữ viết - hình ảnh quan trọng tới HS.

Trình bày bảng cẩn thận, đẹp, đúng chính tả, ngữ pháp, rõ ràng có ảnh hưởng chẳng những đến chữ viết, đến bài làm của HS, mà còn ảnh hưởng tốt hay xấu đến bệnh về mắt của HS.

Một số lời khuyên khi viết bảng là: Chữ viết rõ ràng, đúng chính tả, ngữ pháp, cỡ chữ vừa phải làm sao để HS ở cuối lớp thấy được bình thường; tên bài, tên tiểu mục nên viết bằng phấn màu khác để HS dễ phân biệt; không nên viết quá nhiều, chữ quá dày; hạn chế viết tắt, xóa bảng nhiều lần.

Trong sinh hoạt chuyên môn, các tổ, nhóm cần lưu ý để GV rèn luyện kỹ năng trình bày bảng khoa học, chuẩn xác, chữ viết đẹp sẽ góp phần hình thành nhân cách cho HS.

Ngoài ra, kỹ năng phối hợp linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học: cá nhân, nhóm, lớp; chính khóa và ngoại khóa, tham quan thực tế ...; tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học; tự làm đồ dùng dạy học; thống nhất mức độ ứng dụng CNTT trong từng tiết dạy theo yêu cầu từng bài giảng cũng là các nội dung sinh hoạt tổ, nhóm nhằm rèn luyện kỹ năng sư phạm của GV.

Tổ chức dự giờ, thao giảng theo hướng đổi mới sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn

Dự giờ là hoạt động quan trọng đối với việc phát triển chuyên môn của mỗi GV. Dự giờ sẽ giúp cho GV được dự giờ chủ động, tích cực hơn trong bài giảng của mình. Dù thế nào đi nữa thì mỗi khi có người đến dự giờ, các GV đều chuẩn bị bài kĩ hơn, đôi khi còn có sự trao đổi về bài dạy trước khi lên lớp, đây là một việc làm hết sức có ý nghĩa đối với mỗi GV.

Khi có người đến dự giờ, lớp học cũng diễn ra sôi nổi hơn, ý thức học tập của HS tốt hơn, đây là điều kiện tốt nhất để GV phát huy tính sáng tạo của HS.

Việc dự giờ còn giúp cho GV đi dự giờ học tập, rút kinh nghiệm từ tiết dạy của đồng nghiệp, thông qua việc xử lí tình huống của đồng nghiệp, GV sẽ khắc phục được những thiếu xót trong quá trình giảng dạy...

Bởi vậy, ngoài mục đích đánh giá năng lực của GV thì điều quan trọng là các tổ, nhóm cần tổ chức tốt việc góp ý, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, về kiến thức, về phong cách lên lớp, về tổ chức lớp học.

Tổ chức thao giảng phải có ít nhất 2/3 thành viên của tổ, nhóm tham dự, phải có mục tiêu, rút ra được những kinh nghiệm.

Dự giờ rồi đánh giá, rút kinh nghiệm giờ dạy là việc làm thường xuyên của tổ chuyên môn, nếu được tổ chức tốt sẽ xóa bỏ được tình trạng còn có GV chưa tự giác, tích cực dự giờ đồng nghiệp hoặc tâm lí cho rằng đi dự giờ là kiểm tra tiết dạy của GV.

Cần tránh dự giờ để đối phó nhằm đạt chỉ tiêu số lượng theo quy định. Nên tăng cường các tiết dạy mẫu và quan tâm dự giờ các tiết ôn tập, trả bài cho HS.

Khi đánh giá, rút kinh nghiệm các tiết dạy cần thẳng thắn, chân tình với tinh thần giúp nhau cùng tiến bộ, phải đánh giá thực chất, nêu ra được những điểm mạnh, những hạn chế của người dạy về kiến thức, kỹ năng, thái độ, về nội dung, phương pháp, phong cách.

Cần phê phán lối dạy đọc chép, dạy chay trong khi có và cần sử dụng đồ dùng dạy học. Đối với những tiết học mà GV gặp nhiều khó khăn thì cần trao đổi kỹ, có thể tổ chức cho một GV có kinh nghiệm trong nhóm dạy mẫu tiết đó để cùng nhau học hỏi.

Các giờ được dự cần được xếp loại và lưu lại ý kiến cũng như kết quả xết loại; đối với tiết dạy được thanh tra hoặc dùng để xếp loại GV cần lưu cả phiếu đánh giá giờ dạy.

Chú ý đến nhiều yếu tố khi đánh giá giờ dạy

Đánh giá giờ dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Chẳng hạn khi phân tích khía cạnh rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS, các GV đã lưu ý đến đặc điểm môn học.

Đối với các môn khoa học xã hội, GV thấy hạn chế của nhiều HS trong viết và trình bày bài; bài viết thường dài dòng, không rõ ý, chữ viết xấu, viết sai ngữ pháp, trình bày cẩu thả.

Do vậy, rèn luyện rèn luyện kỹ năng viết bài, vận dụng kiến thức đã học vào bài viết của mỗi em là rất quan trọng. Cần thay đổi cách viết khuôn sáo theo bài mẫu, ít sáng tạo.

Trong dạy học cần chấm dứt tình trạng đọc chép, cần hạn chế việc ghi nhớ máy móc, ghi nhớ nhiều số liệu, nhiều sự kiện; trong các tiết ôn tập chú ý rèn luyện hành văn; chấm trả bài cần kỹ hơn, chỉ lỗi cụ thể từng em để giúp các em sửa chữa.

Đối với các môn khoa học tự nhiên thì lại chú trọng đến việc giúp HS vận dụng kiến thức vào giải các bài tập ở các cấp độ khác nhau tùy theo yêu cầu.

Các tiết luyện tập, ôn tập phải phân loại được hệ thống các các bài tập theo dạng phù hợp. Mỗi dạng bài tập cần chỉ ra định hướng và các bước giải.

Tổ chức tiết dạy ôn tập có hiệu quả

Dạy tiết ôn tập có chất lượng là điều không dễ. Có những GV cho là không khó, bởi vì họ cho rằng HS đã có sẵn các kiến thức đã học, GV chỉ việc hệ thống lại dưới hình thức các bảng hay sơ đồ là xong.

Thế nhưng, dạy tiết ôn tập làm sao để không lặp lại những gì đã giảng ở các bài học trước một cách máy móc, dễ gây nhàm chán cho HS và cho cả chính bản thân GV; làm sao để HS học tiết ôn tập một cách thích thú và có nhiều kết quả?

Mục tiêu của các bài ôn tập nói chung là vừa củng cố các kiến thức đã học của một chương hay một phần nào đó, vừa mở rộng, nâng cao, so sánh đối chiếu với các kiến thức có liên quan, vừa góp phần bồi dưỡng một số kỹ năng nhất định cho HS.

Bởi vậy, tổ chức tiết dạy ôn tập có hiệu quả cũng là vấn đề các tổ chuyên môn cần thảo luận, bàn bạc để chọn cách ôn tập phù hợp cho từng chương, từng phần, phù hợp với mục tiêu của bài ôn tập cũng như phù hợp với các đối tượng HS của lớp.

Cần tránh dạy tiết ôn tập như là một tiết dạy lại, nhàm chán, hiệu quả thấp, ít tác dụng. Trong sinh hoạt tổ chuyên môn cần thống nhất về nội dung, phương pháp, thời lượng ôn tập.

Yêu cầu của tiết ôn tập là hệ thống được kiến thức trong phần ôn tập, có thể nâng cao, mở rộng tùy mục đích, đối tượng ôn tập, rèn luyện được kỹ năng cần thiết cho HS. Ở đây, GV nên bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ GD&ĐT đã ban hành.

Hải Bình (ghi)

 

 

 

Trang 5 trong tổng số 10